Menu

Kỹ thuật nuôi Dê

: May 16, 2016 : 570

Hàng ngày nên cho dê ăn thành nhiều bữa, thức ăn tinh cho ăn thành 2 lần buổi sángvà chiều tối sau khi vắt sữa, phải quan sát mức độ tiêu thụ thức ăn

và phát hiện nguyên nhân kém ăn hoặc bỏ ăn để khắc phục kịp thời. Khi thay đổi khẩu phần hoặc cho ăn thức ăn mới, lạ nên thay thế từ từ và ít một sau đó tăng dần để dê thích nghi dần với thức ăn mới, và tránh hiện tượng dê bị rối loạn tiêu hoá. Nếu nuôi nhốt nên phối hợp nhiều loại thức ăn trong ngày. Các loại thức ăn bị nhiễm bẩn, ôi thối hoặc bị gia súc dẫm đạp bị nát không nên cho dê ăn.

Chăn thả: Có tác dụng cho dê kiếm được nhiều loại thức ăn tự nhiên đa dạng và tạo cho dê hoạt động nhiều, khoẻ mạnh hơn. Phải quy định bãi chăn thả riêng tách biệt với gia súc khác và phân vùng thả luân phiên, không chăn thả nơi đầm lầy, đọng nước. Không chăn thả các loại dê con dưới 2 tháng tuổi, dê cái sắp đẻ và sau khi đẻ 5 ngày, dê ốm đang điều trị và cách ly. Khi chăn thả phải quan sát đàn dê, phát hiện bệnh tật và các trường hợp bất thường để giải quyết. Thời gian chăn thả cần linh hoạt thay đổi theo mùa và thời tiết, trung bình 4-5 giờ/ngày, không thả khi trời có mưa, quá nắng nóng hoặc quá lạnh rét. Trước và sau giờ chăn thả cần cho dê ra sân chơi để uống nước, ăn thức ăn bổ sung và kiểm tra phát hiện động dục. Thả dê cái trước sau cùng mới thả dê đực giống. Sau khi phát hiện dê cái động dục nhốt dê ở chuồng không cho chăn thả.

1.Chăm sóc dê đực giống

Dê đực giống được nuôi nhốt tách riêng ở một ô chuồng riêng về một phía của chuồng để tránh dê đánh nhau và quản lý tốt công tác phối giống. Thông thường 1 dê đực nặng 50 kg 1 ngày cho nó ăn 4kg cỏ xanh 1,5kg lá cây giàu protein 0,4kg thức ăn tinh. Nếu muốn phối giống 2 lần ngày cho ăn thêm 0,3kg rau rá hoặc 1-2 quả trứng gà. Luôn chú ý bổ xung đủ khoáng đa và vi lượng cho dê bằng cách làm tảng đá liếm cho dê ăn thường xuyên. Thường xuyên cho dê đực vận động tuần 2 lần cùng với việc tắm chải khô cho dê. Có sổ theo dõi hiệu quả phối giống của từng đực giống để quản lý giống và tránh quá khả năng sản xuất của chúng. Khi hiệu quả phối giống của dê đạt dưới 60% và tuổi quá 6 năm thì con dê đó nên được thải loại. (không cho tự do tiếp súc với dê cái động dục).

2-Chăm sóc nuôi dưỡng dê cái sinh sản.

a- Dê cái mang thai:

Sau khi phối giống theo dõi nếu đến chu kỳ động dục bình thường (21-23 ngày) mà không thấy dê động dục trở lại là có thể dê đã thụ thai. Thời gian mang thai của dê trung bình là 150 ngày (dao động từ 145-157 ngày) vì vậy phải chuẩn bị đỡ đẻ cho dê từ trước 140 ngày.

Khi có chửa nhu cầu dinh dưỡng của dê tăng dần lên đặc biệt ở 2 tháng cuối cùng. Khi dê cái mang thai dê chịu khó kiếm ăn hơn, phàm ăn hơn bình thường, biểu hiện ở thể trạng bên ngoài lông mượt tăng cân. Cần đáp ứng đủ số lượng và chất lượng thức ăn để dê nuôi thai tốt và có đủ lượng sữa để nuôi con sau đẻ, đồng thời hồi phục cơ thể nhanh sau đẻ.

Không chăn dê quá xa chuồng và tránh dồn đuổi, đánh đập dê, tuyệt đối không nhốt dê đực giống trong đàn cái đang chửa.

Dự tính ngày dê đẻ để chuẩn bị trực, chủ động đỡ đẻ và chăm sóc dê con sơ sinh được chu đáo.

b- Dê đẻ

- Dê sắp đẻ nên nhốt riêng từng con ở chuồng đã được vệ sinh tiêu độc khô, sạch, kín ấm và yên tĩnh.

- Trước khi đẻ 7-10 ngày nên nhốt dê mẹ ở nhà có cũi lồng riêng để theo dõi và chuẩn bị đỡ đẻ cho dê

- Có người trực dê đẻ, chuẩn bị cũi, lót ổ bằng rơm rạ mềm khô cho dê con sau khi sinh và các loại dụng cụ như cồn iốt, giẻ lau, kéo, chỉ để cắt rốn cho dê sơ sinh.

- Dê sắp đẻ có những biểu hiện: Dê khó chịu, đi đái luôn, bầu vú và âm hộ sưng đỏ, bụng sa, bầu vú căng, ở âm hộ có dịch đặc chảy thành dòng và xuất hiện bọc nước ối là dê sắp đẻ. Khi nước ối vỡ ra là dê đẻ. Bình thường thai sẽ được đẩy ra từ từ theo nhịp rặn của dê mẹ. Thời gian dê đẻ xong từ 1-4 giờ tuỳ theo số lượng thai và vị trí thai.

- Nếu dê con đang ra mà bị kẹt, khó đẻ, dê mẹ thường kêu la thì cần được hỗ trợ bằng cách đưa tay đã sát trùng vào đẩy, chỉnh thai theo chiều thuận, khi lôi thai ra cần cẩn thận, hai tay nắm phần thân phía ngoài kéo nhẹ ra theo nhịp rặn của dê mẹ.

Điều quan trọng trước khi can thiệp là xác định đúng vị trí ngôi thai hiện tại để có biện pháp xử lý theo đúng kỹ thuật

- Khi dê con ra được ngoài, dê mẹ tự liếm con, song vẫn phải lấy khăn sạch, mềm, khô lau hết nhớt từ miệng, mũi, tai, mình, 4 chân của dê cũng vuốt sạch máu từ cuống rốn trở ra phía ngoài, dùng dây chỉ chắc thắt chặt cuống rốn cách bụng khoảng 3-4cm, dùng dao sắc hay kéo cắt cuống rốn phía ngoài 1-1,5cm rồi sát trùng bằng cồn iốt 5% hoặc dung dịch Xanh Methylen. Sau khi đẻ hết con (khoảng 30 phút đến 4 giờ) nhau sẽ ra. Trường hợp đẻ khó hoặc sau đẻ 4 giờ mà nhau vẫn chưa ra thì mời cán bộ thú y can thiệp. Dê mẹ đẻ xong cho uống nước ấm có pha muối 0,5% hoặc nước đường 5-10%. Hàng ngày cho dê mẹ ăn thức ăn thô, xanh non, thức ăn tinh chất lượng tốt theo khẩu phần xác định. Không cho dê mẹ ăn quá nhiều thức ăn tinh và củ quả để tránh dê bị chướng bụng đầy hơi.

- Rửa sạch bầu vú và âm hộ, vệ sinh khô sạch nơi dê vừa đẻ. Cho dê con bú sữa đầu hay vắt sữa đầu cho dê con bú càng sớm càng tốt.

c- Dê nuôi con.

Nuôi dưỡng tốt chăm sóc chu đáo, dê trong thời kỳ nuôi con nhằm tăng sản lượng sữa cho con bú và giúp dê mẹ mau chóng hồi phục lại sức khoẻ. Cung cấp thức ăn tinh, xanh cho dê đảm bảo đủ tiêu chuẩn và nhu cầu của dê. ưu tiên cho dê mẹ ăn thức ăn thô xanh non, ngon chất lượng tốt, bổ sung thêm thức ăn tinh, củ quả cho dê mẹ với lượng từ 300-500g/con/ngày.

Cho uống nước sạch thoả mãn yêu cầu nước sạch có đầy đủ ở các máng trong chuồng và ngoài sân chơi. Bổ xung thường xuyên premix khoáng cho dê 0,5kg/tháng/con trong suốt thời gian nuôi con, bằng cách trộn vào thức ăn tinh và làm tảng khoáng treo lên thành chuồng hoặc cho muối, khoáng vào ống tre treo lên thành chuống cho dê liếm.

Theo dõi sự thay đổi khối lượng của dê mẹ 1-2 tháng đầu dê mẹ sẽ sụt trọng từ 5-7% nhưng từ giữa tháng thứ 2 dê sẽ hồi phục dần và ổn định khối lượng. Nếu nuôi dưỡng không tốt, thiếu khoáng, dinh dưỡng và năng lượng sẽ đẫn đến hao hụt khối lượng của dê mẹ, sự hồi phục chậm, kéo dài thời gian động dục lại sau đẻ, hơn nữa dê yếu dễ mắc bệnh.

d-Chăm sóc dê vắt sữa

Dê vắt sữa phải được nuôi dưỡng trong môi trường yên tĩnh trước và trong suốt thời gian vắt sữa. Khẩu phần ăn giầu đạm, đảm bảo đủ dinh dưỡng, khoáng và vitamin. Trong thời gian khai thác sữa không nên thả dê đi quá xa, vào nơi nhiều gai làm xây xát bầu vú... Không nên nuôi dê vắt sữa gần dê đực trưởng thành tránh mùi dê đực làm nhiễm mùi và hỏng sữa.

Thường xuyên kiểm tra, chăm sóc bầu vú để tránh viêm vú. Không để vú quá căng sữa, giữ vệ sinh bầu vú trước và sau khi vắt sữa, tránh các tác động cơ học gây tổn thương bầu vú.

*Khai thác và bảo quản sữa dê:

Thao tác vắt sữa phải nhanh nhẹ nhàng, đều đặn thì dê tiết sữa sẽ nhiều hơn.

Chuẩn bị: Chuẩn bị dụng cụ gồm bình đựng sữa, ca, xô, khăn lau, chậu nước ấm

Thao tác vắt sữa:

+Cố định dê: Nếu dê chưa quen vắt sữa thì dùng dây mềm buộc cổ và 1 chân sau của dê vào thành chuồng, giá, cọc. Lau bầu vú bằng khăn sạch thấm nước ấm (37-40OC). Xoa bóp bầu vú bằng khăn ấm 1-3 phút làm cho bầu vú được kích thích đều. Nếu núm vú dài thì vắt nắm, núm vú ngắn thì vắt vuốt

+Vắt nắm: dùng 4 ngón tay và lòng bàn tay nắm núm vú theo chiều ép từ ngón chỏ xuống ngón út để ép sữa ra ngoài.

+Vắt vuốt: dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ nắm vào núm vú chỗ tiếp giáp bầu vú, vừa bóp đồng thời vuốt xuống phía cuối núm vú để ép sữa ra ngoài.

Phải quan sát những tia sữa đầu tiên và trạng thái tuyến sữa, bầu và núm vú cũng như phản ứng của dê và lượng sữa vắt được để phát hiện bệnh lý và điều trị kịp thời.

Bảo quản:Sau khi vắt xong sữa được chứa vào bình sạch có đậy nắp kín. Muộn nhất sau khi vắt 2 giờ phải được chế biến để bảo quản. Lọc sữa bằng 2- 3 lớp vải phin trắng.

Lịch vắt sữa: vắt sữa 2 lần/ngày(sáng sớm và chiều tối). Đến cuối chu kỳ là giai đoạn dê tiết sữa ít dần nên chỉ vắt 1 lần vào buổi sáng, sau đó vất cách nhật 2- 3ngày. Thời điểm cạn sữa khi năng suất sữa bằng 30% năng suất sữa trung bình của tháng cho sữa đầu tiên

Chú ý: Thường vắt sữa trước khi cho dê con vào bú mẹ.

3-Chăm sóc, nuôi dưỡng dê con theo mẹ

Sau khi đẻ được 30 phút phải cho dê con bú sữa đầu. Nếu con còn yếu thì phải nâng đỡ cho nó tập bú hoặc vắt sữa đầu cho bú bình.

Trong 10 ngày đầu để dê con ở cùng với dê mẹ cho chúng bú tự do, xem dê bú có no không, cần thiết phải hộ trợ cho chúng bú đều cả 2 núm vú nhiều lần trong ngày. Từ ngày 11 phải tách đàn con khỏi mẹ trong cũi lồng riêng đối với dê hướng sữa. Dê con bú trực tiếp dê mẹ 2lần/ngày sau khi vắt sữa buổi sáng, chiều. Ngoài ra còn cho bú bình sữa mẹ 2 lần/ngày vào nửa buổi và ngang chiều. Dê hướng thịt cho ở chung với dê mẹ đến khi cai sữa và bổ sung sữa cho những ổ đẻ 3 con, dê mẹ ít sữa...

Từ 4-5 tuần tuổi chỉ cho dê bú trực tiếp 2 lần/ngày sau khi vắt sữa buổi sáng và buổi chiều. Giai đoạn này dê bắt đầu tập ăn cùng mẹ nhưng vẫn cần khoảng 0,6-0,7 lít sữa/ngày và thay thế sữa trong ngày. Không cho đi chăn thả theo mẹ. Cần được giữ ấm, ở sạch, đồ lót ổ phải được thay thế thường xuyên 1-2 lần/tuần. Cho tập ăn cỏ lá non buộc treo tại chuồng sau 2 tuần tuổi.

Sau 2 tháng tuổi ngoài cho ăn cỏ lá non cần bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp từ 0,1- 0,2 kg/ngày, có thể thả theo mẹ đi chăn đồi gần với dê hướng thịt.

Sữa và thức ăn thay thế sữa, mùa đông nên hâm nóng lên 38-40oC. Bình bú và núm bình phải được rửa sạch trước và sau khi cho bú.

Khi dê con được 3 tháng tuổi thì cai sữa và chuyển sang chế độ ăn tinh thô theo khẩu phần.

4- Nuôi dưỡng và chăm sóc dê hậụ bị

Dê hậu bị là giai đoạn dê sau cai sữa đến trước khi phối giống. Giai đoạn cần nuôi dưỡng hợp lý để chúng sinh trưởng và phát dục đồng bộ, không để dê quá gầy hay quá béo.

Giai đoạn sau cai sữa 4-6 tháng tuổi cần chú ý lượng thu nhận thức ăn và bổ xung loại thức ăn giàu đạm giúp dê thích ứng tốt với việc cai sữa.

Giai đoạn 7 tháng tuổi đến khi phối giống lần đầu dê có khả năng tận dụng tốt nguồn thức ăn thô xanh. Trong giai đoạn này dê bắt đầu động dục lần đầu.

Tuổi phối giống lần đầu:

+ Dê hậu bị được nuôi dưỡng tốt sẽ phát triển nhanh, động dục sớm và có thể cho sinh sản sớm hơn dê nuôi dưỡng kém, trung bình trên 7 tháng tuổi

+ Tuổi phối giống lần đầu thích hợp cho dê hậu bị là lần động dục thứ 2-3 với con cái và sau 12 tháng tuổi với dê Boer.

Giai đoạn sau phối giống lần đầu đến khi đẻ lứa đầu là giai đoạn dê vừa sinh trưởng vừa nuôi thai, cần đặc biệt quan tâm về khẩu phần ăn cho dê.

II. Kỹ thuật phối giống

1- Phối giống cho dê

Đối với dê cái, chỉ phối giống lần đầu khi dê đạt tuổi và trọng lượng cần thiết như dê Bách Thảo tuổi đạt từ trên 8-9 tháng tuổi, khối lượng phải đạt 22-25kg. Dê cái lai Cỏ 7-8 tháng khối lượng phải đạt 18-20kg Trong thực tế sản xuất áp dụng bằng cách bỏ qua 2 lần động dục đầu tiên của dê cái mới phối giống. Đối với dê cái sinh sản thường sau khi đẻ 1,5-2 tháng dê đã phục hồi sức khoẻ, mới cho phối giống lại

- Tuyệt đối không cho dê đực giống phối với dê cái có quan hệ gần gũi họ hàng như là anh chị em ruột hoặc là con cháu của dê đực giống đó.

- Chu kỳ động dục của dê là 19-21 ngày động dục kéo dài 1-3 ngày. Khi động dục âm hộ hơi sưng đỏ hồng, chảy dịch nhờn, kêu la bỏ ăn, nhảy lên lưng con khác, thường dê đực hay chạy theo. Sau khi phát hiện được dấu hiệu dê động dục thì sau 12-36 giờ cho dê giao phối là thích hợp. Trong sản xuất thường khi phát hiện dê động dục sáng ngày hôm nay thì chiều và sáng hôm sau cho giao phối 2 lần là thích hợp.

- Phải có sổ theo dõi phối giống để ghi chép ngày phối kết quả phối giống và dự định ngày dê đẻ để chuẩn bị đỡ đẻ cho dê.

2-Kỹ thuật phối giống: Ngoài việc chọn ghép đôi giao phối thích hợp, tránh đồng huyết thì cho dê giao phối đúng thời điểm là việc làm hết sức quan trọng. Thời gian động dục kéo dài của dê thường là 36-40 giờ và thời gian phối giống thích hợp sẽ là 12-30 giờ vì vậy nên cho dê phối giống 2 lần trong ngày động dục.

Để kiểm tra, phát hiện dê cái động dục và điều khiển được việc phối giống theo ý định, buổi sáng thả dê cái và dê đực ra sân chơi, theo dõi đàn dê, nếu thấy con đực đuổi theo con dê cái nào và có có biểu hiện đòi phối giống còn con cái đó đứng im cho con đực nhảy thì nhanh chóng bắt nhốt riêng con dê cái đó vào chuồng, kiểm tra thấy âm hộ hơi sưng và ướt thì chọn dê đực cho phối giống. Nếu thấy âm hộ chảy nước có mùi hôi và thường xuyên có con đực theo thì có thể con cái đó bị viêm âm đạo cần phải kiểm tra và có biện pháp điều trị để khắc phục. Tuyệt đối không chăn thả dê cái động dục cùng đàn dê để tránh dê đực nhảy nhiều lần và sự cạnh tranh dê cái trong số dê đực dẫn đến đánh húc nhau, ảnh hưởng đến chăn thả và sức khoẻ đàn dê. Phối giống tốt nhất là 2 lần/ngày, lần đầu vào buổi sáng và phối lặp lại vào buổi chiều sau khi chăn thả về. Thường sau phối giống 21 ngày, nếu dê cái không động dục lại thì có thể là dê cái đã có chửa. Sau đó bụng dê to lên, trở nên hiền lành, ăn tốt, da bóng mượt là dê đã mang thai. Cần lưu ý là sau khi cho phối cần ghi chép lại số hiệu dê đực, ngày phối để theo dõi, quản lý giống và dự kiến ngày dê đẻ để chuẩn bị đỡ đẻ cho dê.

III. Biện pháp nâng cao năng suất và khả năng sinh sản của dê

Trong chăn nuôi dê thịt thì một trong những yếu tố chính để nâng cao năng suất và hiệu quả đó là nâng cao khả năng sinh sản và tăng trọng của dê nhằm thu được số đầu con sinh ra và khối lượng dê sản xuất ra hàng năm được cao nhất. Mà khả năng sản xuất của chúng thì phụ thuộc vào một số yếu tố chính sau:

- Giống: Đặc tính này được lưu truyền qua các thế hệ từ đời bố mẹ sang là bản chất của từng giống dê. Đó thường là các yếu tố về thể trạng, khối lượng cơ thể, sản lượng sữa, số con đẻ ra/lứa. Các đặc tính này đạt được qua quá trình chọn lọc và lai tạo các giống dê. Đặc biệt là công tác quản lý, phối giống cho đàn dê đê tránh hiện tượng đồng huyết hoặc sử dụng đực giống không hợp lý.

- Yếu tố môi trường: Đó là các yếu tố về thức ăn, bệnh tật, phương pháp quản lý, khai thác, chuồng trại.... Các yếu tố này có thể điều khiển được khi người nuôi biết áp dụng đúng các giải pháp kỹ thuật trong chăn nuôi. Cụ thể về thức ăn phải đảm bảo đầy đủ, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của gia súc trong các điều kiện và giai đoạn sản xuất khác nhau. Về bệnh tật phải đảm bảo công tác an toàn vệ sinh thú y, công tác phòng trị bệnh, định kỳ kiểm tra, tiêm phòng và tẩy giun sán cho dê, kịp thời phát hiện con ốm để có biện pháp can thiệp kịp thời. Thông thường sau đẻ 1,5 đến 2 tháng dê mẹ sẽ động dục trở lại. Nếu sau 3-4 tháng mà chưa thấy động dục thì cần kiểm tra kỹ về thể trạng và bệnh tật, nhất là đường sinh dục. Nếu không phát hiện bệnh thì sử dụng kích dục tố để tiêm kích thích động dục cho dê. Bên cạnh đó chuồng trại, sân chơi nuôi dê phải đảm bảo sạch sẽ, hợp lý, thoáng mát và vệ sinh.

Cũng cần lưu ý trong mỗi hộ chăn nuôi cần có sổ sách để theo dõi cá thể và tình trạng, khả năng sản xuất của đàn gia súc, giúp công tác quản lý, phối giống và chọn lọc nhằm tạo đàn dê có năng suất cao và ổn định, mặt khác tìm ra được các biện pháp khắc phục những tồn tại gây bất lợi cho chăn nuôi dê, nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

IV-Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật

V- Thức ăn cho dê

1. Tập tính ăn uống của dê

Biết được tập tính của gia súc nuôi là một điều rất quan trọng, vì qua đó người nuôi sẽ biết cách chăm sóc nuôi dưỡng chúng như thế nào cho hợp lý, phù hợp với các đặc tính của chúng để nâng cao năng suất hiệu quả chăn nuôi. Dê là loài động vật nhai lại, nên chúng có khả năng sử dụng các loại thức ăn thô xanh, nhiều chất xơ. Do cấu tạo môi dê mỏng, linh hoạt nên dê ngoài khả năng gặm cỏ như trâu bò, dê phù hợp với việc ăn bứt các loại lá cây, hoa, cây họ đậu thân gỗ hạt dài, các cây lùm bụi.

2. Các loại thức ăn cho dê và một số biện pháp chế biến, sử dụng

2.1. Sử dụng các loại cây, cỏ mọc tự nhiên

Các loại cây bụi, cỏ mọc tự nhiên ở bãi chăn, trên đồi, đê, các loại lá cây như mít, keo tai tượng, chuối, xoan, cây đậu, lá sắn... đều là nguồn thức ăn phong phú cho dê. Ngoài ra con có thể tận dung các vùng núi đá, đồi bãi, bãi đất hoang, rừng cây, vườn cây ăn quả đã cao, tốt làm nơi chăn thả dê.

2.2. Tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp

- Rơm: Là phế phụ phẩm sau khi đã thu hoạch lúa. Đây là nguồn thức ăn sẵn có, phổ biến, dễ bảo quản sử dụng cho dê nhất là trong phạm vi gia đình. Rơm phơi được nắng thì có màu vàng tươi và dê thích ăn, còn rơm để lâu, bị mục nát, dính bùn đất thì dê không thích ăn. Rơm thường có tỷ lệ chất xơ cao (31-33%), ít protein (2,3-3,3%), ít chất béo (1-2%) và thường nghèo vitamin, chất khoáng. Để tăng khả năng tiêu thụ và tiêu hoá thì nên xử lý rơm trước khi cho dê ăn.

Mềm hoá: Chặt rơm rạ thành từng đoàn 5-10 cm rồi vẩy nước muối, trộn đều cho ăn

Kiềm hoá: Chặt rơm 5-10 cm rải đều trên mặt sàn sạch, phẳng. Dùng nước vôi pha loãng 1% tưới lên rơm (1kg rơm cho 6 kg nước), hoà Urea 3% ủ một thời gian rồi cho ăn.

- Lá sắn: Có thể sử dụng lá sắn tươi cho dê ăn trực tiếp khoảng 0,5-1 kg/ngày/con. Lá sắn tươi phải đảm bảo tươi mới, không rập nát, không bị héo. Nếu cho ăn nhiều dê dễ bị ngộ độc vì trong lá sắn có chất độc a xít cyanhydric (HCN). Tốt nhất là phơi khô lá sắn làm thức ăn dự trữ cho dê. Lá sắn khô có hàm lượng protein cao: 19-21% trong tổng vật chất khô (VCK) là nguồn thức ăn bổ sung đạm rất tốt, rẻ tiền dễ kiếm cho dê. Các kết quả nghiên cứu cho thấy bổ sung lá sắn khô trong khẩu phần cho dê gia đoạn sinh trưởng đã nâng cao khả năng tăng trọng của chúng lên tới 30-35%, đồng thời hạ giá thành sản phẩm.

- Thân cây ngô: Gieo ngô dày, mỗi hecta gieo 60 kg hạt giống, rồi tỉa dần lấy cây non cho dê ăn. Thân, lá cây ngô sau khi thu hoạch bắp cũng là nguồn thức ăn rất tốt cho dê. Nếu dê không ăn hết có thể ủ chua hoặc cắt nhỏ phơi khô làm thức ăn dự trữ.

- Dây lang, cây lạc, đậu tương: Sau khi thu hoạch củ, quả có thể sử dụng làm thức ăn cho dê. Ngoài ra con có thể chặt ngắn 6-10 cm phơi khô làm thức ăn cho dê, trong những ngày mưa gió.

- Mía: Sử dụng thân và ngọn mía làm thức ăn cho dê có thể thay thế 50% khẩu phần thức ăn thô xanh. Khi cho ăn nên chặt mía cả vỏ thành lát mỏng. Đây là nguồn thức ăn thô xanh có tiền năng nhất là vào mùa khô, khi thiếu các nguồn thức ăn khác.

- Chuối: Chuối sau khi thu hoạch quả có thể sử dụng thân và lá chuối cho dê ăn. Lá chuối có vị chát còn có tác dụng hạn chế bệnh tiêu chảy. Khi cho dê ăn thân cây chuối nên thái lát mỏng rồi rắc một ít cám và muối cho dê ăn. Loại thức ăn này có thể bổ sung cho dê vào mùa khô hay vào các ngày mưa gió, ẩm ướt mà không cho dê đi chăn thả được.

2.3. Thức ăn củ quả:

Đối với chăn nuôi dê thịt, thức ăn củ quả có hiệu quả rõ rệt nhất là trong giai đoạn sinh trưởng, tăng trọng từ 4-9 tháng tuổi (giai đoạn nuôi vỗ béo). Thức ăn củ quả nhìn chung có đủ các thành phần dinh dưỡng (như tinh bột, protein, li pít, khoáng...), nhưng với hàm lượng ít, còn tỷ lệ nước cao. Đặc biệt củ quả có chứa nhiều vitamin A, B1, B2, C, E, ....

Ở nước ta thức ăn củ quả cho dê chủ yếu là sắn, khoai lang, chuối, bí đỏ ... Thức ăn củ quả khi cho dê ăn phải loại bỏ các củ, quả thối, hỏng, hà mốc, rửa sạch đất cát và tốt nhất là nên thái lát. Cần lưu ý với sắn tươi, không cho ăn các củ sắn để lâu, đã vào rựa (màu đen) vì ở đó có chứa hàm lượng cao chất gây độc (a xít cyanhydric-HCN).

2.4. Thức ăn tinh:

Thức ăn tinh gồm những loại thức ăn có giá trị năng lượng trao đổi và đơn vị thức ăn cao được chế biến từ các loại hạt ngũ cốc (lúa, ngô...), các loại củ (khoai, sắn sau khi đã thái lát phơi khô), các loại hạt thuộc họ đậu (đỗ tương và các loại đậu), các phụ phẩm nông, công nghiệp chế biến như khô dầu, cám, rỉ mật... Thức ăn tinh được chia thanh 2 nhóm: thức ăn tinh bột và thức ăn cao đạm

Thức ăn tinh bột bao gồm các loại hạt ngũ cốc, các loại củ phơi khô

Thức ăn cao đạm bao gồm bột đậu tương, khô dầu, các loại cám tổng hợp, nấm men, bột cá, bột máu. Thức ăn tinh được bổ sung cho dê trong giai đoạn nuôi vỗ béo và cho dê mẹ trong thời ký nuôi con với lượng từ 0,2-0,5 kg/con/ngày.

2.5. Thức ăn phụ phẩm công nghiệp

Đó là các loại bã bột, bột xương, bột cá, bã hoa quả ép, bỗng rượi bia, rỉ mật

Tận dụng các loại bã bột (từ sắn, dong riềng, sắn dây...) thường có tỷ lệ nước 76-83%, hàm lượng xơ thô cao, còn bỗng bia rượi có tỷ lệ nước 70-90%, vật chất khô giàu protein, ít chất khoáng, có thể cho dê ăn với lượng từ 0,5-1 kg/con/ngày ...

Dùng các loại bã hoa quả ép, rỉ mật làm thức ăn cho dê cũng rất tốt, nhưng phải đảm bảo chúng không bị lên men hay mốc, hỏng. Có thể sử dụng rỉ mật trộn với Urê, khoáng premix, cám gạo làm tảng dinh dưỡng cho dê ăn, hay trộn đều với cỏ hay rơm khô nhằm tăng tính ngon miệng và thèm ăn của dê, đồng thời bổ sung thêm năng lượng cho dê.

2.6. Thức ăn khoáng

Các loại thức ăn tự nhiên trong khẩu phần ăn của dê thường không đáp ứng đẩy đủ nhu cầu khoáng của cơ thể, nhất là trong giai đoạn sinh trưởng nhanh và dê mẹ nuôi con. Vì vậy để cân bằng đầy đủ trong khẩu phần, nâng cao khả năng sản xuất, đề kháng bệnh cần cho dê ăn thêm thức ăn khoáng các loại như bột khoáng can xi, bột xương, bột vỏ sò hay vỏ trứng. Nên bổ sung muối vào khẩu phần ăn của dê qua việc cho vào nước uống hay thức ăn xanh nhằm tăng tính ngon miệng và hạn chế dê uống các nguồn nước khác bị ô nhiễm. Đồng thời tạo thói quen cho dê về chuồng đúng thời gian, giảm công lao động đi chăn thả.

2.7. Nước uống

Ở những nước nhiệt đới, dê là một trong những vật nuôi sử dụng nước một cách có hiệu quả nhất. Thông thường trong thức ăn xanh như lá cây, cỏ chứa tới 70-80% nước thì khi ăn dê không đòi hỏi nhiều nước. Tuy nhiên, trong chăn nuôi dê thịt để đảm bảo khả năng lợi dụng thức ăn, đảm bảo cho khả năng sinh sản của dê thì cần bổ sung nước uống thoả mãn cho chúng, đặc biệt là vào mùa hè và đối với dê nuôi vỗ béo và đang nuôi con. Để cung cấp nước uống cho dê thì cần làm 1-2 máng uống nước ở sân chơi để dê tự do uống nước khi cần. Khi bổ sung nước uống nên hoà thêm muối ăn để cung cấp khoáng và tạo thói quen uống nước tại chuồng, tránh uống từ các nguồn nước bị ô nhiễm trên bãi chăn.

2.8. Thức ăn thô xanh

Đối với con dê, thức ăn thô xanh chiếm vị trí trí rất quan trọng. Thức ăn xanh phù hợp với đặc tính tiêu hoá của dê qua việc lên men vi sinh vật trong dạ cỏ. Chúng thường chiếm 55-70% trong khẩu phần ăn của dê. Thức ăn xanh cần đầy đủ, đa dạng và được cung cấp đầy đủ hàng ngày cho dê với lượng từ 10-15% so với khối lượng cơ thể.

Chăn thả dê trên các bãi chăn tự nhiên không những tận dụng nguồn cây cỏ tự nhiên mà còn có những ảnh hưởng tốt đối với dê, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát dục. Ngoài ra dê còn có khả năng tự tìm các loại lá để tự chữa bệnh cho chính bản thân, hoặc tìm kiếm những cây có các chất mà cơ thể chúng đang cần mà các nguồn thức ăn khác không đáp ứng đủ. Tuy nhiên không nên chăn thả dê cố định ở một bãi chăn, mà nên có sự luôn phiên để cây cối có thể phát triển tốt lên được, hạn chế ô nhiễm bãi chăn. Mặt khác khi chăn thả nên tránh những nơi gần hồ nước, bãi chăn có vũng nước nhằm hạn chế mức độ nhiễm giun sán của dê. Có thể kết hợp trên bãi chăn với trâu, bò, cừu để tận dụng đồng cỏ tự nhiên, hạn chế được những bệnh của mỗi loại gia súc. Cần lưu ý đối với dê con dưới 3 tháng tuổi không nên cho đi chăn thả theo mẹ vì sẽ làm dê con yếu sức dễ mắc bệnh và chết.

Tuy nhiên khi chăn thả tự nhiên lượng thức ăn dê thu nhận được chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của dê. Qua tính toán thấy, thời lượng chăn thả trung bình/ngày chỉ khoảng từ 6-8 tiếng, tức là nếu chỉ chăn thả thôi thì dê mỗi ngày chỉ được ăn khoảng 1 phần ba thời gian, còn lại là phải chịu nhịn đói. Nên không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng, khả năng sản xuất của chúng. Do đó để đảm bảo cung cấp đẩy đủ thức ăn thô xanh đều đặn, ngoài việc chăn thả hợp lý, các gia đình nên bố trí diện tích đất thích đáng để trồng các giống cỏ và cây thức ăn dê, hoăch tìm kiếm nguồn thức ăn bổ sung. Có thể trồng cây thức ăn ngay trong vườn, quanh nhà làm hàng rào hoặc dọc theo bờ ruộng, trên gò đồi, nếu có đồng bãi thì nên trồng theo băng xen canh với cây màu hoặc cây ăn quả. Một số cây cỏ trồng làm thức ăn cho dê đã được áp dụng trong sản xuất như sau:

- Cỏ voi (King grass): Là giống cỏ có năng suất cao, thân đứng thuộc họ hoà thảo, rễ chùm, trồng bằng hom, cây cao 1,2-1,8m. Có năng suất cao, có thể thu cắt 6-8 lứa/năm đạt 80-200 tấn/ha/năm. Hàm lượng protein trung bình 80-90gam/1 kg vật chất khô. Thu hoạch lúc còn non (dưới 30 ngày tuổi) hàm lượng protein cao hơn 100 g/ 1kg VCK. Lượng đường trong cỏ voi cao trung bình 70-80 gam trong 1 kg vật chất khô. Giống cỏ này thường được trồng cắt cho dê ăn tại chuồng.

- Cỏ Ghi nê (Guinea grass) là giống cỏ hoà thảo thân bụi, rễ chùm, cao khoảng 0,6-1,2 m, sản lượng 60-80 tấn/ha/năm. Hàm lượng protein khoảng 7-8%, xơ thô 33-36% vật chất khô. Cỏ mềm thích hợp cho chăn nuôi dê. Cỏ có khả năng chịu hạn và có khả năng phát triển trong vụ đông.

- Cỏ Pangola: Là giống cỏ thân bò, được trồng để thu cắt, thái để phơi khô làm thức ăn thô khô. Có thể thu hoạch 5-6 lứa/năm. Sản lượng chất xanh đạt 40-60 tấn/ha/năm. Lượng protein trong vật chất khô: 7-8%, xơ thô: 33-36%.

- Cỏ Ruzi là giống cỏ lâu năm, thuộc họ hoà thảo. Cỏ có thân bò, rễ chùm, thân và lá dài mềm, có lông mịn. Cây có thể mọc cao 1,2-1,5m. Cỏ có khả năng chịu hạn khô và mọc tốt ở độ cao tới 2000 m. Năng suất cỏ đạt 60-90 tấn/ha/năm. Có thể thu cắt từ 7-9 lứa/năm. Đây là giống cỏ chủ lực cho việc trồng cắt, phơi khô làm thức ăn cho dê. Hàm lượng chất dinh dưỡng: vật chất khô: 32-35%, protein 9-10%, xơ thô: 27-29%.

- Cây đậu Flemingia: Là cây bụi thân gỗ, thuộc họ đậu có rễ ăn sâu. Cây có thể mọc cao 3-3,5m. Là cây lâu năm, có khả năng tái sinh rất tốt. Cây chịu hạn giỏi, có thể trồng ở đất bạc màu, bị xói mòn hay độ chua cao, nhưng không phát triển tốt ở nới trũng hay ngập úng kéo dài. Năng suất chất xanh cao 55-60 tấn/ha/năm. Tỷ lệ vật chất khô của ngọn lá từ 25-28%, protein thô 16-18%. Đây là loại cây có thể sử dụng dạng tươi, hay phơi khô làm thức ăn cho dê, đặc biệt trong vụ đông xuân.

- Cây Trichanthera gigantea: Hay còn gọi là cây chè khổng lồ. Là cây lâu năm, thân mọc thẳng, có nhiều mấu lồi, cây có thể phát triển quanh năm. Khi non thân cây mọng nước. Lá có màu nâu sẫm, dòn và hơi ráp. Cây ưa độ ẩm, chịu được bóng râm. Năng suất chất xanh đạt 70-80 tấn/ha/năm. Hàm lượng nước trung bình 80-95%, hàm lượng xơ 25%, protein thô 15-17% (vật chất khô). Cây được sử dụng ở dạng tươi làm thức ăn bổ sung cho dê.

- Cây keo dậu, là cây lâu năm, thân bụi hay gỗ cao đến trên 10m. Cây có khả năng chịu hạn tốt và có thể duy trì bộ lá xanh trong suốt mùa khô. Cây có thể sinh trưởng ở trên nhiều loại đất khác nhau. Năng suất chất xanh đạt 40-45 tấn/ha/năm. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của keo dậu: 30-31% vật chất khô, protein thô 21-25%, xơ thô 17-18%, khoáng tổng số 6-8%, mỡ 5-6%. Có thể sử dụng dạng tươi hay phơi khô làm thức ăn cho dê rất tốt.

2.9. Chế biến và dự trữ thức ăn

Có hai phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn thường được áp dụng là phơi khô cỏ, lá sắn, lá keo dậu, lá đậu Flemingia...và chặt ngắn ủ chua cây ngô, cỏ voi, thân lá lạc, sắn củ... Có thể sử lý để làm tăng giá trị dinh dưỡng một số loại thức ăn cho dê như sử lý ủ rơm với urê, muối và cám gạo. Sử dụng rỉ mật trộn với cỏ, rơm khô bổ sung cám, bột sắn và lá cây giàu đạm chặt ngắn đã phơi khô làm nguồn thức ăn cho dê.

Thức ăn thô xanh: nên phơi hơi tái và cắt ngắn cho dê ăn. Dê thích ăn thức ăn ở độ cao, nên cần phải treo máng thức ăn lên cao trên mặt đất 0,5-0,7 m. Khi thức ăn được chặt ngắn sẽ giảm được tính chọn lọc của dê, tránh vương vãi thức ăn và tăng hiệu quả sử dung. Ngoài sân chơi hoặc trong chuồng nuôi nhốt nên có máng ăn rộng để tất cả dê có thể ăn cùng một lúc được và dê dễ ăn.

Thức ăn củ quả, mía cây: nên cắt thành miếng mỏng cho dê dễ ăn, không nên nghiền nát, nhỏ hay để cả củ quả nguyên cho ăn.

Thức ăn bổ sung như khoáng, muối nên làm thành tảng liếm, hoặc cho vào ống tre có đục lỗ nhỏ phía dưới treo lên thành chuồng cho dê liếm.

2.10. Xây dựng khẩu phần ăn cho dê

Trên cơ sở nhu cầu dinh dưỡng của dê, căn cứ theo khối lượng, khả năng sản xuất, các nguồn thức ăn hiện có mà xây dựng khẩu phần ăn cho các loại dê cho hợp lý, cân đối. Yêu cầu của khẩu phần là phải đảm bảo lượng ăn được của dê cao nhất đồng thời phải đảm bảo đủ cân đối các chất dinh dưỡng cho chúng, thiếu hụt bất cứ một chất nào trong cơ cấu khẩu phần ăn uống hàng ngày dê sẽ sinh trưởng kém, thành thục chậm, giảm thể trọng, sinh sản kém, gầy yếu, dễ mắc bệnh. Đồng thời hạn chế việc thay đổi khẩu phần ăn đột ngột cho dê, nếu cần thì phải thay đổi từ từ từng bước một, để tránh các bệnh do rối loạn tiêu hoá ở dê. Sau đây là nhu cầu năng lượng, protein và một số khẩu phần ăn cho dê thịt. Đặc biệt là giai đoạn nuôi vỗ béo, cần cung cấp đủ, cân đối lượng thức ăn để đảm bảo dê sinh trưởng tốt, đạt hiệu quả tăng trọng cao, chất lượng thịt tốt.

VII- Phòng và trị bệnh cho dê

Công tác phòng trị bệnh cho đàn dê phải là sự kết hợp việc sử dụng thuốc thú y với việc áp dụng kỹ thuật chăn nuôi phù hợp để phòng tránh bệnh tật xảy ra. Trách nhiệm về công việc vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho đàn dê là của cả người chăn nuôi và người làm thú y. Làm tốt công tác thú y là bảo đảm cho đàn dê khoẻ mạnh và có sức sản xuất cao. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất vẫn xuất hiện bệnh tật trong đàn. Cho nên việc xác định kịp thời các dấu hiệu bệnh tật để điều trị và ngăn ngừa được sự lây lan mầm bệnh là rất cần thiết.

Việc tăng đàn dê chậm có nhiều nguyên nhân như tỷ lệ thụ thai thấp, tỷ lệ dê chết trước và sau cai sữa cao và tỷ lệ hao hụt do chết và loại thải trong đàn dê trưởng thành. Dê ốm, chết nhiều ở các lứa tuổi chủ yếu do thiếu chương trình phòng bệnh hợp lý và nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo. Các nguyên nhân làm dê chết thường tập trung vào các nhóm bệnh truyền nhiễm, dinh dưỡng và ký sinh trùng.

Tóm lại, để khống chế được thiệt hại về kinh tế do hậu quả của bệnh tật gây nên, người nuôi dê cần thực hiện tốt các biện pháp phát hiện bệnh và phòng bệnh trong quá trình chăn nuôi.

Phương pháp phòng bệnh cho dê

Để giảm tối thiểu mức độ mắc bệnh và để dê sinh trưởng phát triển và sinh sản tốt, thì phải đảm bảo chuồng trại luôn sạch sẽ, khô ráo và thông thoáng. Chuồng dê, đặc biệt là sàn chuồng nên được vệ sinh hàng ngày. Tất cả phân và rác thải phải được thu gom và ủ trong hố ủ phân tối thiểu một tháng trước khi sử dụng. Khi dê ỉa chảy phải vệ sinh vài lần trong ngày. Định kỳ sát trùng, tiêu độc chuồng trại.

Nên nuôi nhốt dê ở nơi khô ráo. Chống mưa hắt, gió lùa vào chuồng dê. Không được để dê bị ướt nước mưa.

Phải đảm bảo chuồng trại thông thoáng, chống ngột ngạt. Đặc biệt ở mùa đông khi trời lạnh, độ ẩm cao, không khí ngột ngạt có thể gây nên bệnh viêm phổi và một số bệnh khác.

Không nên cho dê ăn thức ăn ướt, dính nước mưa, dính bùn đất. Nếu cho ăn thức ăn ướt, bẩn thì chẳng những dê con mà dê lớn cũng bị ỉa chảy. Khi thức ăn bị ướt thì nên phơi khô trước khi cho ăn.

Cho dê uống nước sạch có bổ sung muối ăn trước và sau khi chăn thả để hạn chế dê uống nước từ các nguồn nước bị ô nhiễm.

Phải cung cấp tảng đá liếm, hay ống khoáng, muối treo ở thành chuồng cho tất cả các loại dê để bổ sung khoáng, muối nhằm phòng bệnh do thiếu khoáng.

Hàng ngày phải kiểm tra bệnh tật từng con, thường xuyên kiểm tra ve, ghẻ, chấy rận để bắt hay dùng thuốc để điều trị.

Kiểm tra và cắt móng chân dê thường xuyên để dê dễ dàng đi lại và tránh các bệnh liên quan về chân, móng dê.

Định kỳ kiểm tra và tẩy giun sán cho dê. Nếu dê được nuôi dưỡng tốt, chuồng trại hợp lý, sạch sẽ có thể tẩy định kỳ 7-9 tháng một lần. Những nơi vệ sinh kém, môi trường ô nhiễm, bãi chăn hay ngập nước, vùng trũng hoặc gần ao hồ thì có thể tẩy giun sán từ 2-4 lần/năm. Nếu thấy trong đàn có nhiều con gầy yếu, hay bị tiêu chảy thường xuyên cần kiểm tra giun sán và dùng thuốc tẩy cho đàn dê.

Định kỳ tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm thường xảy ra như bệnh tụ huyết trùng, viêm ruột hoại tử và đậu dê.

QUY TRÌNH PHÒNG MỘT SỐ BỆNH

1-Phòng bệnh giun sán: Định kỳ tẩy ký sinh trùng cho dê sinh sản và dê hậu bị 2-4 lần/năm, còn dê con tẩy sau khi cai sữa.

2-Phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da: Cứ 15-20 ngày một lần làm vệ sinh thân thể cho dê để phát hiện những con có ve, ghẻ, nấm và bôi thuốc trị bệnh.

3-Phòng bệnh tụ huyết trùng: Cứ 5 tháng 1 lần dùng vacxin tụ huyết trùng, tiêm phòng cho dê từ 3 tháng tuổi trở lên

4-Phòng bệnh viêm ruột hoại tử: Cứ 5 tháng 1 lần dùng vacxin giải độc tố, tiêm phòng cho dê từ 3 tháng tuổi trở lên

5-Phòng bệnh đậu dê: Tiêm vacxin đậu dê 2 lần/năm cho dê từ 3 tháng tuổi trở lên

6- Phòng bệnh lở mồm long móng: Dùng vacxin LMLM tiêm phòng nhắc lại hàng năm, dê con được tiêm phòng sau 3 thángtuổi. (đối với cơ sở giống)

Quy trình này áp dụng cho tất cả các cơ sở chăn nuôi dê giống và khu vực chăn nuôi gia đình.